Dimanche 25 octobre 2009 7 25 /10 /Oct /2009 20:33



25/10/2009 - Kiên Cường

 

Trước tình hình ùn tắc đang ngày một tăng cao và mất kiểm soát, UBND TP HCM vừa chấp thuận chủ trương cho phép Công ty cổ phần công nghệ Tiên Phong được nghiên cứu xây dựng hệ thống thu phí tự động ôtô vào khu vực trung tâm và thí điểm trong 6 tháng.

 

Với số lượng ôtô hiện có trên 400.000 chiếc cùng khoảng 100 xe đăng ký mới mỗi ngày buộc Sài Gòn tính tới bài toán hạn chế trên nếu không muốn ôtô xếp hàng dài trên đường.

 

Cuối tháng 7, TP HCM từng đề xuất lập các trạm thu phí trên địa bàn thành phố với hệ thống thu phí giao thông điện tử (ERP - áp dụng cho ôtô). Phí được xây dựng theo cách tính số tiền phải trả để sử dụng một tuyến đường phụ thuộc vào mức độ ùn tắc trên tuyến, tức đường thường bị kẹt xe thì phí lưu hành xe máy càng cao.

 

Tháng 10/2008, UBND TP HCM đã nêu ý định thu phí lưu hành đối với ôtô. Theo đó, mỗi năm xe dưới 7 chỗ phải đóng phí lưu hành 10 triệu đồng. Nhưng đề xuất này bị Bộ Tài Chính bác với lý do không khả thi.

 

Thực tế tại Sài Gòn hiện nay cứ vào giờ cao điểm, hàng trăm nghìn phương tiện đổ ra đường gây nên cảnh tắc nghẽn tại nhiều nơi. Từ đầu năm đến hết tháng 9, toàn thành phố có tới 61 vụ ùn tắc lớn trên 30 phút, con số này năm ngoái chỉ là 48 vụ. Đó là chưa kể những vụ ùn tắc dưới nửa tiếng chưa được thống kê, báo cáo của Ban an toàn giao thông thành phố mở đầu cuộc họp bàn về chống ùn tắc hôm qua.

 

Theo ông Nguyễn Ngọc Tường, Phó Ban an toàn giao thông thành phố thì cứ như đà này, cuối năm nay chắc chắn TP HCM sẽ không đạt được mục tiêu kéo giảm ùn tắc khi số vụ kẹt xe cứ tăng với tốc độ chóng mặt và mất kiểm soát. “Có đến 12 vụ ùn tắc kéo dài từ 4 tiếng đến gần 9 tiếng là không thể chấp nhận được đối với một đô thị luôn hoạt động như Sài Gòn”, ông Tường nói.

 

Đồng tình với quan điểm trên, Chủ tịch UBND TP HCM Lê Hoàng Quân cho rằng, vấn nạn kẹt xe ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội. “Hiện Sài Gòn đang phải gánh gần 4,2 triệu phương tiện đó là chưa kể xe ngoại tỉnh, tốc độ tăng phương tiện luôn ở mức 10% trong 9 tháng đầu năm. Trong khi diện tích mặt đường thành phố chỉ chiếm 5% diện tích mặt đường cả nước thì số phương tiện giao thông chiếm 1/3 quốc gia”, ông Quân dẫn chứng.

 

Ngoài việc thu phí lưu hành ôtô, UBND TP HCM tiếp tục ra một kế hoạch ngắn hạn với 7 nhóm giải pháp không mới: từ nay đến hết quý I/2010 tăng cường công tác tuyên truyền, tăng cường công tác xử phạt, chấn chỉnh trật tự đô thị và lòng lề đường, đẩy nhanh tiến độ công trình trọng điểm, chấn chỉnh công tác thi công rào chắn...

 

Sở Giao thông (đơn vị soạn thảo kế hoạch này) cũng mạnh dạn đề nghị những biện pháp chưa từng có trước nay. Ví dụ cho phép các công trình đào đường thi công luôn ngày tết, lễ…

 

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Social
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 18 octobre 2009 7 18 /10 /Oct /2009 18:42

 
18/10/2009
- Trí Hiếu

,

 

Ngày 16/10 tại thủ đô Viêng Chăn của Lào, công ty Viettel và đối tác liên doanh Lao Asia Telecom đã khai trương mạng di động Unitel tại thị trường này. Đây là mạng di động thứ hai của Viettel đầu tư ra nước ngoài, sau dự án mở mạng di động trị giá 27 triệu USD ở Campuchia hồi tháng 3/2007.

 

Theo Viettel, hiện Unitel là mạng di động có hạ tầng mạng lưới kỹ thuật lớn nhất tại thị trường này, với 900 trạm BTS, chiếm 35% tổng số trạm BTS của cả nước Lào và kế hoạch đến hết tháng 12/2009 sẽ mở rộng thành 1.200 trạm BTS.

 

Nhà mạng này cũng dự tính, với dung lượng hiện tại là 1,4 triệu thuê bao và đến năm 2010 sẽ đạt 2.000 trạm BTS và 3 triệu thuê bao vào năm 2010, chiếm 25% thị phần của thị trường có dân số 6 triệu dân.

 

Viettel cho biết sẽ phủ sóng 3G tới một số tỉnh, thành phố ở Lào vào cuối năm 2009, với khoảng 200 trạm phát sóng, dung lượng 250.000 thuê bao, cung cấp các dịch vụ kết nối Internet không dây tốc độ cao cho điện thoại di động và máy tính.

 

Ngoài ra, thực hiện chính sách hỗ trợ ngành giáo dục và quân đội tại thị trường này, mạng Unitel cũng tài trợ miễn phí sử dụng dịch vụ Internet cho hơn 1.000 trường học trên cả nước Lào, hỗ trợ cho sinh viên 12.000kip/tháng vào tài khoản và hỗ trợ cho các quân nhân trong Quân đội 20.000kip/tháng vào tài khoản nếu họ dùng dịch vụ di động Unitel.

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Télécommunication
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 18 octobre 2009 7 18 /10 /Oct /2009 12:03



16/10/2009 -
Ngọc Châu - Nhật Minh

 

Với quan điểm thận trọng về các gói kích cầu, đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng Việt Nam nên chú trọng ổn định kinh tế vĩ mô, tránh những nguy cơ bất ổn như năm 2008.



Phát biểu tại cuộc tọa đàm của Phòng Thương mại châu Âu (Eurocham) mới đây, đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra những ý kiến có phần trái chiều với nhiều chuyên gia về khả năng thực hiện gói kích cầu thứ hai, trên cơ sở phân tích sâu sắc về hiện trạng kinh tế vĩ mô của Việt Nam hiện nay.

 

Ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của của IMF tại Việt Nam cho rằng, đã có dấu hiệu kinh tế thế giới phục hồi và các chỉ báo của thị trường tài chính đã khả quan hơn. Song theo đánh giá của IMF, triển vọng kinh tế thế giới năm 2010 sẽ không hứa hẹn, bởi còn nhiều vấn đề đáng lo ngại như cầu về nhà đất và đầu tư vẫn ở mức thấp, và tiếp cận tín dụng có khó khăn. Triển vọng thị trường lao động cũng ở mức thấp, ít nhất cho đến hết quý I/2010.

 

"Nhìn chung các nền kinh tế châu Á sẽ hồi phục từ từ nhờ vào gói kích cầu, và IMF cho rằng các chính phủ châu Á nên duy trì các gói kích cầu cho đến khi nền kinh tế được cải thiện", ông Benedict Bingham nói.

 

Nhưng với Việt Nam, thông điệp của IMF có phần khác với nhiều nước châu Á. Chuyên gia của Quỹ này cho rằng, trước hết Việt Nam cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trước những tác động mà gói kích cầu tạo ra. Cùng với đó, cần ngừng chương trình kích thích kinh tế một cách có trật tự, và thắt chặt chính sách tiền tệ, củng cố lại chính sách tài khóa.

 

Trước đó, Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia Lê Đức Thúy cho rằng, tự thân nền kinh tế chưa đủ sức tự phục hồi mà không cần thêm sự hỗ trợ bổ sung của Chính phủ. "Tôi cho rằng những biện pháp hiện nay chưa đủ, có thể phải nghiên cứu các chính sách mới, như về tài khóa, tiền tệ... Tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2010 có thể là 6,5% nhưng không ai dám nói là những năm sau cũng tiếp tục tăng cao", ông Thúy nói.

 

Ông cũng cho rằng Việt Nam nên có thêm gói bổ sung với quy mô nhỏ hơn, với phương thức hợp lý hơn, để giúp sự phục hồi tăng trưởng diễn ra một cách bền vững. Tuy nhiên, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng với gói kích cầu thứ hai, nếu được thực hiện, thì không nên chọn giải pháp trợ cấp lãi suất ngắn hạn cho doanh nghiệp như vừa qua, mà nên có biện pháp khác. Hiện có 3 thành viên của Hội đồng tư vấn tài chính tiền tệ quốc gia đưa ra đề xuất thực hiện gói kích cầu thứ hai, 7 người khác tỏ ý ủng hộ.

 

Dự báo của IMF về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã được điều chỉnh cao lên cho năm nay. Theo ông Benedict Bingham, sự tăng trưởng này được duy trì là nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ với các biện pháp về tài khóa, tiền tệ.

 

Nhưng theo Quỹ này, những bất ổn tương tự những gì đã diễn ra vào năm 2008 dường như đang lại nổi lên, dù tính chất và nguyên nhân khác nhau. Mối lo ngại trước tiên là lạm phát và tiền đồng đang chịu nhiều áp lực. Lãi suất giữa tiền đồng và USD thu hẹp, vì thế nhiều người chuyển từ các khoản tiết kiệm tiền đồng sang tiết kiệm bằng đôla kỳ hạn dài. IMF cũng dự báo thâm hụt tài khoản vãng lai trong năm nay sẽ giãn rộng.

 

 

Điều đáng chú ý, theo IMF, là thứ hạng của Việt Nam trên bảng xếp hạng về cạnh tranh môi trường kinh doanh của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) trong vài năm gần đây giảm dần. Yếu tố quan trọng quyết định vị trí của các nền kinh tế trên bảng xếp hạng này là sự ổn định kinh tế vĩ mô - vốn là lợi thế nổi trội của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, theo IMF, Việt Nam cần quan tâm tới điều này để đảm bảo sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Dimanche 18 octobre 2009 7 18 /10 /Oct /2009 11:54


17/10/2009
-
Lệ Thu


Những hàng hóa tại các hội chợ ở Hải Phòng đều treo biển "Made in Việt Nam", nhưng cũng không ít mặt hàng được làm giả, làm nhái nhập ngoại, đội lốt hàng nội, khiến nhiều "thượng đế" bị lừa, không khỏi bức xúc.

 

Khởi động Chương trình "Tuần hàng Việt Nam" từ giữa tháng 8/2009, với sự hỗ trợ, tạo điều kiện tích cực của Sở Công thương Hải Phòng, nhiều hội chợ với quy mô vừa và nhỏ ở Hải Phòng liên tiếp được mở tại các vùng ngoại vi thành phố, thu hút hàng trăm doanh nghiệp tham gia, nhằm giới thiệu và cung ứng những mặt hàng thiết yếu, phục vụ người tiêu dùng khu vực nông thôn Hải Phòng. 

 

Khởi động chương trình này ở Hải Phòng là hội chợ quy mô nhỏ, gồm hơn 40 gian hàng của 30 doanh nghiệp trong nước, được tổ chức tại xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy. Trong đó, doanh nghiệp lớn nhất tham gia hội chợ này đã cung cấp hàng ngàn mặt hàng cho người tiêu dùng, đó là siêu thị Intimex Hải Phòng.

 

Tuy lượng hàng hóa cũng như lượng người đến hội chợ chưa thật sự rộn ràng, nhưng qua hội chợ, hàng Việt đã bắt đầu được người tiêu dùng nông thôn quan tâm, thậm chí có xu hướng cảm thông, chia sẻ, sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trên chặng đường đưa hàng Việt về với vùng sâu, vùng xa.

 

Có một thực tế, nhiều người tiêu dùng Việt Nam, kể cả ở các vùng nông thôn bấy lâu vốn "sính" hàng ngoại, (đương nhiên, có nhiều lý do, một trong những lý do đó là vì hàng ngoại tốt hơn và ít làm giả, làm nhái hơn), nay nếu nói về chất lượng, nhiều mặt hàng nội đâu có thua kém hàng ngoại, thậm chí không ít sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất còn đạt chất lượng "vàng", thương hiệu từng vượt biên giới, đi xa khắp các châu lục.

 

Đáng trách, khi thấy người dân hưởng ứng Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", tin cậy chọn lựa hàng nội, không ít tư thương đã toan tính đưa các mặt hàng nhập ngoại rẻ tiền, kém chất lượng, thậm chí hàng giả, hàng nhái vào trà trộn, đội lốt… hàng Việt Nam chất lượng cao để đánh lừa người tiêu dùng.

 

Ở Hải Phòng, không chỉ các chợ, nhiều cửa hàng, cửa hiệu ở đường phố, thậm chí ngay tại các hội chợ, các mặt hàng như: Quần áo, giầy dép… mang mác "Made in Việt Nam", nhưng thực tế có cả hàng nhái, hàng nhập khẩu rẻ tiền từ Trung Quốc, bày bán xen kẽ, đội lốt hàng nội, khiến người tiêu dùng khó lường đâu là hàng thật, hàng giả và hết sức bức xúc.

 

Cũng xin được nói thêm rằng, việc sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng và xâm phạm sở hữu trí tuệ không phải bây giờ mới xảy ra, không những thế, diễn biến của nó còn ngày càng phức tạp cả về quy mô lẫn thủ đoạn.

 

Bằng chứng mới đây, TP Hải Phòng tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, các cơ quan chức năng Hải Phòng đã kiểm tra 7.598 vụ, trong đó khởi tố 11 vụ, xử phạt hành chính 3.953 vụ, cảnh cáo 3.634 vụ, với tổng số tiền phạt nộp ngân sách hơn 4 tỷ đồng (chưa kể hàng hóa tiêu hủy, yêu cầu tái chế theo chất lượng đã công bố khoảng 20 tỷ đồng nữa).

 

Đáng nói, trong số những vụ việc kiểm tra, xử lý kể trên, có cả những trường hợp, tư thương đã "đảo" nhãn mác, biến hàng ngoại giá rẻ, kém chất lượng, thành hàng nội cao cấp. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mặc dù xử lý gắt gao như vậy, nhưng tình trạng hàng giả, hàng nhái vẫn không giảm, thậm chí có chiều hướng gia tăng trên địa bàn.

 

Đặc biệt, nắm bắt được tâm lý gần đây, người Việt quay về với hàng Việt, các gian thương đã lạm dụng thương hiệu "hàng Việt Nam" nhằm kiếm lời bất chính. Đây là điều làm cho nhiều người tiêu dùng Việt Nam thực sự yêu hàng Việt Nam, không khỏi e ngại, lăn tăn

 

 

 

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 9 octobre 2009 5 09 /10 /Oct /2009 18:45


08/10/2009 -
TỪ NGUYÊN

 

Nếu không có những chính sách và cách  làm mới thì kết quả của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước mãi chỉ là ‘bình mới rượu cũ”.

 

Quan điểm trên được nhiều ý kiến đưa ra tại Diễn đàn “Tái cấu trúc và phát triển doanh nghiệp Nhà nước” do Báo Đầu tư và Câu lạc bộ doanh nghiệp Nhà nước tổ chức sáng 8/10.

 

Tại diễn đàn, nhiều ý kiến của những “người trong cuộc” cho rằng, cải cách doanh nghiệp Nhà nước vừa là một trong những trọng tâm nhưng cũng là lĩnh vực cải cách nhạy cảm, khó khăn nhất của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Lý do được đưa ra, đó là cải cách doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề mang tính tư tưởng, chính trị, xã hội và tâm lý.

 

 

Vẫn theo phong trào

 

Kinh nghiệm ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy: cải cách doanh nghiệp Nhà nước thường được tập trung vào hai nội dung chủ yếu là điều chỉnh cơ cấu, giảm thiểu quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước và cải cách thể chế quản lý.

 

Theo đó, phương thức để tiếp cận cải cách được nhiều quốc gia áp dụng theo hai hướng: hoặc là “liệu pháp sốc”, tức là tư nhân hóa nhanh chóng hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước, chỉ giữ lại một số doanh nghiệp công ích. Hoặc có thể áp dụng “liệu pháp thận trọng”, từng bước thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu để dần chuyển doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo chế độ doanh nghiệp hiện đại.

 

Tuy nhiên, ở Việt Nam, quá trình thực hiện cải cách doanh nghiệp Nhà nước hiện nay lại dường như đang càng thực hiện càng rối bởi tính hình thức lẫn sự lẫn lộn trong cả chính sách cùng cách thức thực hiện.

 

Theo TS.Nguyễn Đình Tài, Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, công tác đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp trong thời gian qua dù đã đạt được một số thành tưu nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập. Yếu kém nổi bật nhất thường thấy là công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước thường không đạt kế hoạch, nhất là đối với doanh nghiệp quy mô lớn thuộc các lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

 

Không chỉ thế, trong quá trình cổ phần hóa, việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài lại rất khó khăn nên kết quả là phần vốn Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 52%) trong vốn điều lệ của các doanh nghiệp cổ phần hóa. Bên cạnh đó, ngay cả những doanh nghiệp đã cổ phần hóa vẫn sử dụng những người quản lý cũ, áp dụng cơ chế quản lý, điều hành của doanh nghiệp Nhà nước trong điều hành, quản trị công ty mới.

 

Theo TS.Tài, nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên là do một số quy định pháp luật về cổ phần hóa chưa thật sát với thực tế hoặc chậm được cụ thể hóa hướng dẫn thi hành. Đồng thời, tiêu chí, lĩnh vực và địa bàn cần duy trì doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước lại không ổn định. Ngoài ra cũng có nguyên nhân do quy mô của các doạnh nghiệp được tiến hành cổ phần hóa ngày càng lớn hơn, cơ cấu tổ chức và quan hệ phức tạp hơn hoặc có tình hình tài chính không lành mạnh, phải chờ kết luận thanh tra, xử lý khiếu nại tố cáo…

 

Chính vì thực tế đó, luật sư Trần Hữu Huỳnh (Trưởng ban Pháp chế VCCI) cho rằng, khái niệm sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước đã được chúng ta đề cập và triển khai hàng chục năm nay. Tuy nhiên, với kết quả đạt được, cụ thể là hệ số Icor của các doanh nghiệp Nhà nước đạt thấp đã cho thấy hiệu quả sử dụng đồng vốn của khối này là “có vấn đề”. Với thực trạng đó, nhiều chuyên gia cho rằng, chúng ta đang tiến hành cải cách, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo phong trào, mang nặng tính hình thức nên chắc chắn hiệu quả sẽ không cao.

 

Theo ông Huỳnh, muốn đạt được mục tiêu của việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước thì cần phải “bắt đúng bệnh” và phân định rõ chức năng của lực lượng này, chứ không chỉ đơn thuần là cứ tiến hành theo kiểu phong trào như hiện nay.

 

Thừa nhận những hạn chế của công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước hiện nay, TS Trần Tiến Cường, Trưởng ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (thuộc CIEM) cho hay, chính việc tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước hiện nay đồng thời là bộ máy thực hiện quyền chủ sở hữu, đã dẫn đến tình trạng không rõ cơ quan nào là đại diện sở hữu chính, làm cho không những lẫn lộn vai trò quản lý của Nhà nước và quản lý chủ sở hữu trong cùng một cơ quan mà còn có sự “lấn sân” chéo do cơ quan quản lý Nhà nước này lại cùng tham gia chức năng quản lý chủ sử hữu thuộc cơ quan khác.

 

Chính điều này đã dẫn đến quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước bị “méo mó”, phân biệt và không thống nhất với doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài.

 

 

Doanh nghiệp cũng kêu

 

Đa số các doanh nghiệp Nhà nước được khảo sát đều cho rằng, tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước vẫn là một vấn đề gì đó khá khó và “tắc” ở nhiều khâu. Tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Bùi Ngọc Bảo đặt câu hỏi: khái niệm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước không mới nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa đưa ra được một phương án tối ưu?

 

Còn đối với bản thân từng doanh nghiệp cụ thể, theo ông Bảo, bản thận họ cũng đã và phải luôn luôn biến chuyển thường xuyên trong phương thức kinh doanh để đáp ứng đòi hỏi của thị trường. Chính những thay đổi mang tính thường xuyên này cũng đã giúp doanh nghiệp tự đổi mới.

 

“Nguyên nhân của khó khăn có chăng là do cơ chế, hệ thống pháp luật hiện nay. Nếu cứ tiếp tục hô hào tái cấu trúc theo phong trào thì chắc chắn sẽ không đạt được kết quả mong muốn”, ông Bảo nhấn mạnh.

 

Còn bà Lê Thị Hoa (Vietcombank) cho rằng, dù kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một chương trình lớn, được khởi xướng từ lâu song đến nay, những cơ chế trước, trong và sau cổ phần hóa vẫn còn quá nhiều bất cập. Đơn cử như quy định về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần vẫn còn một số nội dung chưa phù hợp, cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là xác định giá trị quyền sử dụng đất còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ, việc quy định giá bán cho đối tác chiến lược không được thấp hơn giá đấu giá bình quân khi IPO cũng là một bất cập…

 

Tuy nhiên, theo bà Hoa, hạn chế lớn nhất hiện nay vẫn là thiếu một khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối. Chính điều này đã gây lúng túng cho bản thân các doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.

 

Ông Nguyễn Chí Thành, Trưởng ban chiến lược - Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) cho rằng, bản thân doanh nghiệp này có một trọng trách rất lớn đối công tác đổi mới, sắp xếp hệ thống doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế hiện doanh nghiệp này lại đang gặp vô vàn những khó khăn, bị động trong việc tiếp nhận doanh nghiệp cũng như hoạt động bán vốn. Nguyên nhân được xác định là do SCIC vẫn phải tiếp nhận nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, không hiệu quả, khó bán. Đồng thời, doanh nghiệp này lại chịu hai luồng áp lực trái chiều khi tiến hành hoạt động thoái vốn.

 

Nói về những bất nhất trong chính sách cổ phần hóa hiện nay, ông Cao Đăng Phúc, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần vận tải Đường sắt cho hay, doanh nghiệp này đã cổ phần hóa được hơn một năm và tại thời điểm đó đã xác định các khoản cần bán, cần thu. Thế nhưng sau đó, do thiếu nhất quán trong cơ chế nên Nhà nước lại tiếp tục cắt thêm một khoản lớn gây khó khăn cho doanh nghiệp.

 

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 9 octobre 2009 5 09 /10 /Oct /2009 18:32


09/10/2009 -
Ngọc Quang

 

(SGGP). – Hôm qua (8-10), tại diễn đàn “Tái cấu trúc và phát triển doanh nghiệp Nhà nước” do Báo Đầu tư và Câu lạc bộ doanh nghiệp Nhà nước tổ chức, các chuyên gia cho rằng, cải cách doanh nghiệp nhà nước vừa là trọng tâm nhưng cũng là lĩnh vực cải cách nhạy cảm, khó khăn nhất của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.

 

Theo TS Nguyễn Đình Tài, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, công tác đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp trong thời gian qua dù đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập. Yếu kém nổi bật nhất thường thấy là công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước thường không đạt kế hoạch, nhất là đối với doanh nghiệp quy mô lớn thuộc các lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

 

Trong quá trình cổ phần hóa, việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài lại rất khó khăn nên kết quả là phần vốn Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 52%) trong vốn điều lệ của các doanh nghiệp cổ phần hóa. Bên cạnh đó, ngay cả những doanh nghiệp đã cổ phần hóa vẫn sử dụng những người quản lý cũ, áp dụng cơ chế quản lý, điều hành của doanh nghiệp Nhà nước trong điều hành, quản trị công ty mới.

 

Thừa nhận những hạn chế, TS Trần Tiến Cường, Trưởng ban Nghiên cứu cải cách và Phát triển doanh nghiệp cho rằng, chính việc tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước hiện nay đồng thời là bộ máy thực hiện quyền chủ sở hữu, đã dẫn đến tình trạng không rõ cơ quan nào là đại diện sở hữu chính, làm cho không những lẫn lộn vai trò quản lý của Nhà nước và quản lý chủ sở hữu trong cùng một cơ quan mà còn có sự “lấn sân” chéo do cơ quan quản lý Nhà nước này lại cùng tham gia chức năng quản lý chủ sở hữu thuộc cơ quan khác.

 

Hiện nay, nước ta đang duy trì 8 tập đoàn kinh tế và 96 tổng công ty nhà nước. Riêng khối doanh nghiệp nhà nước này đã chiếm 50% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, 60% dư nợ tín dụng và 70% tổng dư nợ quốc gia, có đóng góp 40% GDP của cả nền kinh tế và 29% thu thuế nội địa của ngân sách nhà nước.

 

Nhìn tổng thể khối doanh nghiệp này có quy mô rất lớn so với nền kinh tế Việt Nam.

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 2 octobre 2009 5 02 /10 /Oct /2009 12:26


02/10/2009 – Anh Ph
ương

 

60% vốn đầu tư nước ngoài chảy vào lĩnh vực bất động sản

 

(SGGPO).- Sáng 2-10, UBTVQH nghe và cho ý kiến về báo cáo của Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009, phương hướng, nhiệm vụ 2010.

 

Tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của QH Hà Văn Hiền đã trình bày báo cáo thẩm tra của Ủy ban về vấn đề trên, theo đó, Ủy ban Kinh tế của QH nhất trí với mục tiêu tăng trưởng 6,5% cho năm 2010, nhưng đề nghị hạ chỉ tiêu về bội chi ngân sách, điều chỉnh chỉ tiêu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và mức tăng tổng kim ngạch xuất khẩu so với đề xuất của Chính phủ.

 

UB Kinh tế nhận định, những giải pháp quyết liệt và kịp thời của Chính phủ đã ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ ổn định các cân đối vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

 

Tuy nhiên, bội chi ngân sách cao trong nhiều năm trở lại đây và riêng năm 2009 lên tới 6,9% GDP, trong khi mức bội chi này chưa tính đến các khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại. Bản báo cáo thẩm tra cảnh báo, nợ Chính phủ tăng mạnh (năm 2008 nợ của Chính phủ khoảng 36,5% GDP, năm 2009 ước lên đến 40% GDP, năm 2010 dự kiến khoảng 44%), nếu không có giải pháp quyết liệt để giảm dần bội chi ngân sách thì trong vài năm tới nợ Chính phủ sẽ tiến dần đến mức giới hạn an toàn.

 

Hệ số đầu tư (ICOR) cao, tăng lên trên 8 so với mức 6,66 của năm 2008 cho thấy tình trạng đầu tư kém hiệu quả; vốn đầu tư nước ngoài chảy quá nhiều vào lĩnh vực bất động sản… cũng là những vấn đề đáng lưu ý khác. Năm 2007, tỉ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản chỉ chiếm khoảng 25%, đến năm 2008 tăng lên 36,8%, 6 tháng đầu năm 2009 chiếm tới trên 60%. Chủ nhiệm UB Kinh tế bình luận: “Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài như vậy sẽ không tạo ra nhiều việc làm và ít có khả năng tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, không đẩy mạnh được xuất khẩu”.

 

Liên quan đến việc cho vay hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 131/QĐ – TTg, đa số ý kiến trong UB Kinh tế cho rằng, gói hỗ trợ lãi suất vay vốn ngắn hạn đã thực sự tiếp sức cho một bộ phận doanh nghiệp gặp khó khăn, song số doanh nghiệp được vay vốn hỗ trợ lãi suất theo quyết định trên không nhiều (chỉ khoảng 20% tổng số doanh nghiệp).

 

Hiệu quả thực chất của các khoản tín dụng cũng cần được đánh giá thêm, bởi trên thực tế có tình trạng dùng vốn vay để đảo nợ, đầu tư vào chứng khoán hoặc đầu tư vào bất động sản, thậm chí có doanh nghiệp vay vốn hỗ trợ lãi suất tại ngân hàng này và gửi sang ngân hàng khác để hưởng chênh lệch…

 

Về kế hoạch năm 2010, UB Kinh tế nhất trí đề nghị tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 khoảng 6,5%; chỉ tiêu CPI tăng không quá 8% và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu 8 – 10%. UB đề nghị chỉ tiêu bội chi ngân sách không quá 6% GDP (Chính phủ đề xuất mức 6,5%) và yêu cầu Chính phủ có kế hoạch cụ thể để giảm bội chi ngân sách xuống dưới 5% trong các năm sau.

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Vendredi 2 octobre 2009 5 02 /10 /Oct /2009 12:20


02/10/2009 - Ngọc Châu

 

Nhận định kinh tế đã ra khỏi thời kỳ khó khăn nhất, nhưng cũng phát sinh nhiều yếu tố rủi ro, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đề xuất tăng trưởng năm 2010 cần tính đến những mục tiêu dài hạn hơn.

 

Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm nay họp bàn về tình hình kinh tế - xã hội 2009 và kế hoạch cho năm 2010. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 6,5% trong năm 2010, trong đó GDP theo giá thực tế vào khoảng 106 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1.200 USD và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 7%.

 

Mục tiêu trong năm 2010 là phục hồi tăng trưởng kinh tế, đảm bảo cao hơn năm 2009, tạo tiền đề để tăng trưởng nhanh và bền vững trong các năm tiếp theo. Đồng thời, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội… phấn đấu ở mức cao nhất hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010.

 

Xuất khẩu dự kiến tăng khoảng 6% so với 2008, và bội chi ngân sách bằng 6,5% GDP. Dự báo trong năm 2010, Việt Nam sẽ nhập siêu khoảng 13,6 tỷ USD, bằng 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân vãng lai thâm hụt khoảng 9,4 tỷ USD.

 

Chính phủ chủ trương chính sách tiền tệ sẽ chuyển từ nới lỏng sang thận trọng, linh hoạt, duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ sẽ kiểm soát chặt việc tăng tổng phương tiện thanh toán, dư nợ tín dụng.

 

 

Trong các chỉ tiêu chính về phát triển kinh tế mà Chính phủ đề xuất, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chỉ đồng tình với mức tăng trưởng 6,5%.

 

Quan điểm của Ủy ban là tiếp tục kích thích kinh tế nhưng tập trung cho các mục tiêu trung và dài hạn, và tái cấu trúc nền kinh tế.

 

Theo phân tích của Ủy ban, kinh tế Việt Nam đang đi vào ổn định và bắt đầu phục hồi. Hệ thống doanh nghiệp đã qua thời điểm khó khăn nhất và có thể không còn cần đến sự "giải cứu" của Chính phủ - như cách gọi của Ủy ban Kinh tế. Tuy nhiên, một số cân đối vĩ mô tiềm ẩn bất ổn. Bội chi ngân sách năm 2009 lên tới 6,9%, dù chưa tính các khoản Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại, trái phiếu Chính phủ. Nợ Chính phủ tăng mạnh - năm 2008 là 36,5% GDP, năm 2009 ước lên 40% và 2010 dự kiến 44%. Tăng trưởng tín dụng tăng khá, gây sức ép tăng lãi suất.

 

Ủy ban Kinh tế đề xuất xuất khẩu nên đặt mục tiêu tăng 8-9%, thay vì 6%. Bội chi ngân sách cần được về 6% GDP trong năm 2010, thay vì 6,5%. Theo Ủy ban, mức 6,5% như Chính phủ đề xuất đã là giảm so với năm 2009, nhưng vẫn vượt xa mức giới hạn cho phép là 5%, đồng thời cần có kế hoạch cụ thể giảm về dưới 5% trong các năm sau.

 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cũng được Ủy ban đề xuất đưa lên mức 8%, bởi vẫn có những nhân tố tác động gây sức ép tăng, như giá cả thế giới nhích lên do kinh tế phục hồi; nhu cầu trong nước cũng tăng do tác động kích thích kinh tế và chính sách tiền tệ, tài khóa nới lỏng. Những yếu tố này sẽ khiến sức ép lạm phát lên cao hơn 2009.

 

Theo Ủy ban Kinh tế, trong năm 2010, Việt Nam cần tập trung đảm bảo các cân đối vĩ mô quan trọng. Đồng thời, điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa một cách thận trọng, kinh hoạt với các giải pháp hướng tới cân bằng cán cân thanh toán, ổn định tỷ giá và duy trì dư nợ Chính phủ trong giới hạn an toàn. Ủy ban cũng yêu cầu có chính sách cụ thể phát triển thị trường nội địa, định hướng cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa.

 

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Eco
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mercredi 30 septembre 2009 3 30 /09 /Sep /2009 08:48


30/09/2009 -
TỪ NGUYÊN

 

Chương trình "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt" cần chọn đúng đối tượng làm xuất phát điểm để có thể đạt được mục đích.

 

Quan điểm trên được ông Ngô Trọng Thanh, Giám đốc Công ty Tư vấn phát triển thị trường Mancom đưa ra, khi trao đổi với VnEconomy về chương trình vừa được Bộ Chính trị chỉ đạo triển khai.

 

 

Ông nói:

 

- Mục đích của chương trình “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” về cơ bản là rất hay, bởi không có gì lý tưởng hơn khi mình được dùng hàng của chính đất nước mình sản xuất mà chất lượng lại rất đảm bảo.

 

Tuy nhiên, giữa mục đích và phương thức triển khai là hai điều hoàn toàn khác nhau. Nếu chúng ta chỉ tập trung “hô hào” người Việt dùng hàng Việt thì đó là chúng ta đang tiến hành một quy trình ngược.

 

Lẽ ra, chúng ta phải đặt ra mục tiêu là phải làm sao để doanh nghiệp Việt sản xuất được sản phẩm mà người Việt tin dùng.

 

Vì sao các doanh nghiệp Mỹ lại thường "trội" hơn các doanh nghiệp của các nước khác trong việc chiếm lĩnh thị trường thế giới, bởi doanh nghiệp Mỹ có một thị trường tiêu thụ nội địa rộng lớn với hơn 350 triệu dân.

 

Không một doanh nghiệp nào thành công ở thị trường quốc tế mà lại không thành công ở thị trường nội địa, tức thị trường nội địa phải là bàn đạp cho doanh nghiệp tiến ra thị trường quốc tế.

 

Bên cạnh đó, để doanh nghiệp Việt “tấn công” được vào các thị trường Âu, Á, Mỹ…, trước hết phải làm tốt trên thị trường nội địa, sau đó mới tính đến chuyện kinh doanh trên thị trường quốc tế.

 

 

 

Phải bắt đầu từ doanh nghiệp

 

 

Có nghĩa là theo ông, mục tiêu đặt ra sẽ gặp nhiều khó khăn vì chưa “bấm trúng huyệt”?

 

Tôi cho rằng, chương trình này có phần thiên về mệnh lệnh hành chính, nên cũng có thể hiệu quả đối với chi tiêu công.

 

Tuy nhiên, gốc rễ của vấn đề phải là chi tiêu của hộ gia đình, của toàn xã hội. Do vậy, tôi có phần nghi ngờ về hiệu quả của chương trình bởi chúng ta chọn xuất phát điểm dường như chưa hợp lý. Lẽ ra, chúng ta phải bắt đầu từ doanh nghiệp, bởi đó mới chính là đối tượng tạo nên lòng tin từ người tiêu dùng.

 

Do đó, thay vì kêu gọi người Việt ưu tiên dùng hàng Việt thì chúng ta có thể tập trung vào khâu quản lý chất lượng để làm sao sản phẩm làm ra đúng với những gì họ đã đăng ký và quảng cáo.

 

Bên cạnh đó, cần phải tìm cách nâng cao vị thế người tiêu dùng vì thực tế họ đang bị đơn độc, mặc dù việc bảo vệ người tiêu dùng bằng thông tin đang dần được phát huy.

 

 

Ông nghĩ sao về tâm lý “sính ngoại” vẫn đang đeo bám nhiều người tiêu dùng?

 

Nói một cách công bằng, chuyện "sính ngoại" không chỉ xảy ra với thị trường nội địa của chúng ta. Tuy nhiên, ở nhiều nước phát triển, người tiêu dùng nhìn chung sính những thương hiệu nổi tiếng, thay vì nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm.

 

Chúng ta vẫn biết về lòng tự tôn dân tộc của người Nhật Bản, nhưng cần biết có tới 40% phụ nữ Nhật Bản sở hữu ít nhất một sản phẩm của Luis Vuitton.

 

Như vậy, phải chăng một phần nguyên nhân "sính ngoại" của người tiêu dùng Việt là do họ "sính" những thương hiệu lớn của nước ngoài?

 

Bên cạnh đó, chúng ta phải tự hỏi tại sao người Việt hiện vẫn chưa đặt nhiều tin tưởng vào hàng Việt. Đó là vì họ đã bị lừa dối quá lâu bởi cung cách làm ăn chụp giật, tư duy bán hàng tiểu nông, lừa dối khách hàng của không ít doanh nghiệp Việt.

 

Tất nhiên, trong hơn 20 năm mở cửa nền kinh tế, cũng có rất nhiều doanh nghiệp Việt thành danh. Nhưng nếu để ý sẽ thấy, trong số họ không có doanh nghiệp nào mà không biết giữ chữ tín. Kết quả khảo sát của một tập đoàn nước ngoài hồi năm ngoái cũng cho thấy, có đến 70% người Việt chuộng hàng ngoại, và là nước có tỷ lệ chuộng hàng ngoại thuộc hàng cao nhất thế giới. Đây là một con số báo động cho doanh nghiệp Việt.

 

Khi hàng nội chưa tạo được lòng tin trong người tiêu dùng thì chúng ta không thể cổ súy người Việt dùng người Việt.

 

Trong khi đó, nếu hàng Việt vừa rẻ vừa tốt thì chúng ta cũng không cần phải kêu gọi dùng hàng Việt. Chúng ta đâu có cần phải kêu gọi dùng bánh Kinh Đô, cà phê Trung Nguyên, nội thất Hòa Phát…, mà người tiêu dùng vẫn tự tìm đến.

 

Tuy nhiên, đáng tiếc là trong số hơn 280 nghìn doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động, thì số thương hiệu ở lại được trong lòng người tiêu dùng là quá ít.

 

 

 

Khách hàng phải được tôn trọng

 

 

Ông có thể nói thêm về nguyên nhân khiến hàng Việt chưa tạo được nhiều niềm tin với người tiêu dùng?

 

Chúng ta thử đặt câu hỏi, tại sao hàng của Nhật Bản, Hàn Quốc được người tiêu dùng của họ chấp nhận. Vì các doanh nghiệp của họ cũng tuyên bố: hàng hóa tiêu chuẩn cao nhất sẽ dành cho thị trường nội địa. Ở Nhật Bản, những phát kiến mới nhất của hãng xe Toyota cũng đều được dành cho người tiêu dùng trong nước tối thiểu là 3 năm, sau đó mới tính chuyện xuất sang các thị trường khác.

 

Điều này cho thấy, doanh nghiệp của họ luôn tôn trọng chữ tín, tri ân khách hàng nội địa.

 

Nhưng, nếu điều này đem áp dụng đối với Việt Nam thì lại là một điều không tưởng, bởi sức tiêu dùng của người Việt là quá thấp so với nhiều nước trên thế giới.

 

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đòi hỏi những gì tốt nhất so với cam kết của doanh nghiệp. Nhưng đáng tiếc là hiện nay vẫn còn không ít doanh nghiệp Việt vẫn cố ý lừa gạt người tiêu dùng từ cách đặt tên sản phẩm, lập lờ trong công bố xuất xứ hàng hóa…

 

Chính điều đó đang gặm nhấm dần uy tín của doanh nghiệp Việt và cũng khiến cho người tiêu dùng đánh mất lòng tin với sản phẩm nội. Nếu không mang lại giá trị thật thì đừng bao giờ lấy được của khách hàng dù chỉ là một xu.

 

 

Thực tế thì tỷ lệ người dân dùng hàng ngoại cao cấp hay hàng giả hàng nhái vẫn chiếm khá cao. Theo ông, họ là thủ phạm hay là bị hại của thực tế này?

 

Người tiêu dùng luôn thông minh với túi tiền của họ. Họ luôn có trách nhiệm với từng đồng tiền và họ biết đâu là sản phẩm phù hợp với túi tiền của họ. Tôi cho rằng, người tiêu dùng luôn luôn đúng khi quyết định mua một sản phẩm nào đó.

 

Tuy nhiên, thực tế lại đang tồn tại một sự bất đối xứng thông tin trên thị trường. Đó là người bán luôn có nhiều thông tin hơn so với người mua nên thường đặt người tiêu dùng vào thế bị động. Do vậy, cũng có thể xem phần lớn người tiêu dùng hiện nay đang là nạn nhân của chính sự bất đối xứng thông tin đó.

 

 

Ông nghĩ sao khi nhiều người tiêu dùng cho rằng, họ chọn hàng nội chỉ vì muốn ủng hộ doanh nghiệp Việt?

 

Đúng! Tôi được biết, cuộc khảo sát đang diễn trên VnEconomy với hàng nghìn ý kiến tham gia, thật ngạc nhiên khi có 47% người cho rằng ủng hộ doanh nghiệp Việt là nguyên nhân quan trọng nhất khi họ chọn hàng Việt. Tỷ lệ này bỏ xa nguyên nhân quan trọng thứ hai là giá thành hợp lý (25%).

 

Tuy nhiên, một vấn đề chúng ta cần thống nhất: thế nào là hàng Việt? Hàng chỉ do các doanh nghiệp Việt sản xuất, hay bao gồm cả các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất tại Việt Nam?

 

Kết quả cuộc khảo sát thực sự là một nguồn khích lệ rất lớn với doanh nghiệp. Mỗi sản phẩm, mỗi thương hiệu cần một thời gian dài để chiếm được khối óc của người tiêu dùng, nhưng cần một thời gian rất, rất dài để chiếm được trái tim của họ. Với sự ủng hộ này, ít nhất về mặt cảm xúc, quả thực mỗi doanh nghiệp Việt đã có một điểm tựa mạnh mẽ từ 86 triệu người tiêu dùng nội địa.

 

Và như vậy, chúng ta có thể khẳng định, để chương trình thành công, quả bóng đang ở chân doanh nghiệp!

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Social
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Mardi 29 septembre 2009 2 29 /09 /Sep /2009 12:47


Nhóm phóng viên

 

Chiều 29/9, bão chưa tan nhưng miền Trung đã có ít nhất 23 người chết, hàng nghìn hộ dân bị cô lập. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Quân khu 5 điều máy bay trực thăng, xuồng cao su khẩn cấp cứu hộ dân bị mắc kẹt.

 

Những tỉnh có nhiều người chết là Kon Tum 9 người, Bình Định 4 người, Đà Nẵng 3 người...Hiện mưa rất to tại các huyện nam Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi - vị trí cơn bão số 9 đổ bộ vào đất liền. Mưa lớn đã làm mực nước các sông từ Quảng Bình đến Bình Định đều trên báo động 3

 

14h30 ngày 29/9, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao ban cơ động Ban chỉ huy tiền phương phòng chống bão lũ tại Đà Nẵng, yêu cầu khẩn trương tìm giải pháp cứu hộ một số điểm dân cư đang bị bão lũ chia cắt. Phó thủ tướng chỉ đạo Quân khu 5 điều máy bay trực thăng, xe thiết giáp, xuồng cao su để cứu hộ.

 

Hiện thôn Thanh An, xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang có 500 hộ bị lũ sông Trà Bồng chia cắt đang kêu cứu. Bên cạnh đó, 100 hộ ở cù lao Mỹ Tâm, Bình Chánh, huyện Bình Sơn đề nghị cứu hộ khẩn vì nước lũ bao vây đang ngày một cao, gió giật mạnh.

 

Các phương tiện cứu hộ, quân đội đang được huy động tối đa, kể cả lực lượng không quân, cố gắng có giải pháp tiếp cận người bị nạn trước khi trời tối.

 

 

Đến 15h, hoàn lưu cuối của cơn bão vẫn còn quét khắp miền Trung, gió mưa bao phủ khắp nơi.

 

Điện đã được khôi phục tại một số vùng nhưng chập chờn, mất liên tục. Ngoài đường tôn vẫn còn bị gió thổi bay vèo vèo, theo mô tả của ông Trương Ngọc Nhi, Trưởng Ban phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Ngãi. Ở một số nơi, người dân nóng ruột nháo nhào lao ra mưa gió dữ dội để dọn dẹp thiệt hại do bão gây ra.

 

Để tránh nguy cơ bị tôn bay chém phải, Ban phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Ngãi đã ra lệnh giới nghiêm toàn bộ dân trong nhà, cấm ra đường trừ trường hợp cấp thiết để tránh nguy hiểm đến tính mạng. Tại những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề, lực lượng cứu hộ vẫn tiếp tục tiến hành di dời dân khẩn cấp về nơi an toàn.

 

Toàn bộ hệ thống điện thoại của tỉnh bị tê liệt, giao thông đứt đoạn do hàng loạt cây cối ngã đổ chưa thể thu dọn ngay lúc này, 6 trụ sở cơ quan hành chính chỉ còn lại đống đá vụn.

 

Đến trưa nay, Quảng Ngãi xác nhận 2 người chết, 1 người mất tích và 5 bị thương. Hơn 3.000 nhà, trường học bị hư hỏng nặng, tốc mái. Toàn bộ diện tích 150 ha trồng hành, tỏi trên đảo Lý Sơn mất trắng.

Tại Quảng Nam, đầu giờ chiều nay gió vẫn còn mạnh cấp 9, mưa rất to trên diện rộng. Nhiều cây cối ngã đổ, gây ách tắc giao thông, một số địa phương bị ngập sâu. Mực nước sông các huyện phía bắc của tỉnh dâng cao, khiến hàng loạt ngôi nhà sập, cuốn trôi nhiều tài sản người dân.

 

Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam Nguyễn Văn Thu đang có mặt ở địa bàn hỗ trợ công tác chống bão trong tiếng mưa dông ầm ầm, sốt ruột: "Người dân đang thét gào kêu cứu. Bộ đội được huy động tối đa ứng cứu dân". Vọng từ điện thoại của ông Thu đến tai phóng viên VnExpress.net là tiếng hét, gọi nhau của nhiều người lẫn vào mưa gió.

 

Theo tin từ Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn, tỉnh đã có 3 người thiệt mạng. Quảng Nam đang tập trung lực lượng sơ tán trên 70.000 dân ở những vùng nguy hiểm thuộc các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Núi Thành, thành phố Hội An và thành phố Tam Kỳ đến nơi an toàn.

 

 

Việc vận chuyển lương thực cũng được tiến hành khẩn trương.

 

Theo đó, tỉnh Quảng Nam tổ chức dự trữ lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu khác đủ dùng trong 7 ngày, đề phòng lụt bão kéo dài và bị cô lập, nhất là ở các huyện miền núi và đồng bằng ven biển.

 

Trưa 29/9, cửa biển Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam) nước đã dâng cao, ngập hết các khu dân cư ven biển. Còn trong khu phố cổ, nước dâng lên mức báo động 3, nhấm chìm hầu hết đường phố.

 

Trưa nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có cuộc điện thoại trực tiếp với Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam Nguyễn Đức Hải, để động viên nhân dân Quảng Nam bình tĩnh ứng phó với bão số 9. Trung ương sẽ theo dõi sát tình hình bão tại đây và tiếp tục chỉ đạo công tác phòng chống.

 

Báo cáo nhanh của cơ quan phòng chống lụt bão tỉnh Bình Định, có 4 người thiệt mạng, 3 người mất tích (trong đó có hai chị em dâu ở Phù Mỹ ra đầm Trà Ổ đánh cá) và 4 người bị thương. Tuy không nằm trong tâm bão nhưng Bình Định cũng mất 97 ngôi nhà sập hoàn toàn và hơn 2.000 nhà bị tốc mái. Thông tin ban đầu cho biết 39 tàu thuyền chìm.

 

Tại Phú Yên, thống kê sơ bộ có 2 người bị thương do sập nhà, 3 tàu thuyền bị chìm và 1 tàu bị trôi dù đang neo đậu an toàn ở bến.

 

Theo ghi nhận của các đài khí tượng thủy văn các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, hiện lũ trên các sông đang lên nhanh, nhiều vùng hạ lưu đã đạt đỉnh. Dự báo, với sự kết hợp giữa mưa - gió - lũ của “siêu bão” cấp 15 này thì khả năng nhiều khu vực sẽ bị cô lập, cuộc sống của người dân sẽ vô cùng khó khăn trong những ngày sắp tới.

 

Par J.-Ph. Eglinger - Publié dans : Social
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Créer un blog gratuit sur over-blog.com - Contact - C.G.U. - Rémunération en droits d'auteur - Signaler un abus - Articles les plus commentés